Tương Ưng Bộ · SN 51.11
Kinh Trước Khi Giác Ngộ
Pubbasutta — bài thứ mười một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này thuộc phẩm Rung Chuyển Lâu Đài — mười bài giữa của tương ưng, nơi các công thức được phân tích thành từng chi tiết nhỏ.
Này các tỳ-kheo, trước khi giác ngộ, khi còn là bồ-tát chưa chứng ngộ, ta đã suy nghĩ như vầy.
Chữ iddhi trong tiếng Pali nghĩa hẹp là thần thông, nghĩa rộng là sự thành tựu. Cả hai nghĩa đều có mặt trong tương ưng này, và chỗ nào dùng nghĩa nào thì phải tự đọc mà phân biệt.
Bài này là lời kể của chính Đức Thế Tôn về câu hỏi Ngài đã tự đặt ra trước khi giác ngộ: đâu là con đường cho sự tu tập thần túc. Rồi kinh nói rất cụ thể cách giữ cho ước muốn không quá lơi lỏng, không quá căng, không co lại, không tản ra — và cách giữ nhận biết liền mạch từ trước ra sau, từ dưới lên trên, từ ngày sang đêm.
Và như vậy, một bài kinh chỉ gồm mấy câu, được lặp lại đủ nhiều lần để thành một thói quen của tâm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thần Túc (Iddhipādasaṃyutta), tương ưng thứ 51.
Phẩm Thứ Hai (Pāsādakampanavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Thần Túc.
Kinh Trước Khi Giác Ngộ (Pubbasutta) — bài thứ mười một.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, trước khi giác ngộ, khi còn là bồ-tát chưa chứng ngộ, ta đã suy nghĩ như vầy:
Đâu là nhân, đâu là duyên cho sự tu tập thần túc?
Rồi này các tỳ-kheo, ta suy nghĩ như vầy:
Ở đây, vị tỳ-kheo tu tập thần túc có định nhờ ước muốn, cùng với các hành tinh cần —
như vầy: ước muốn của ta sẽ không quá lơi lỏng, cũng không quá căng; không co lại bên trong, cũng không tản ra bên ngoài.
Vị ấy trú với nhận biết về phía sau và phía trước —
phía trước thế nào thì phía sau thế ấy, phía sau thế nào thì phía trước thế ấy;
dưới thế nào thì trên thế ấy, trên thế nào thì dưới thế ấy;
ngày thế nào thì đêm thế ấy, đêm thế nào thì ngày thế ấy.
Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che kín, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng.
Vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tinh tấn, cùng với các hành tinh cần —
như vầy: tinh tấn của ta sẽ không quá lơi lỏng, cũng không quá căng; không co lại bên trong, cũng không tản ra bên ngoài.
Vị ấy trú với nhận biết về phía sau và phía trước —
phía trước thế nào thì phía sau thế ấy, phía sau thế nào thì phía trước thế ấy;
dưới thế nào thì trên thế ấy, trên thế nào thì dưới thế ấy;
ngày thế nào thì đêm thế ấy, đêm thế nào thì ngày thế ấy.
Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che kín, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng.
Vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tâm, cùng với các hành tinh cần —
như vầy: tâm của ta sẽ không quá lơi lỏng, cũng không quá căng; không co lại bên trong, cũng không tản ra bên ngoài.
Vị ấy trú với nhận biết về phía sau và phía trước —
phía trước thế nào thì phía sau thế ấy, phía sau thế nào thì phía trước thế ấy;
dưới thế nào thì trên thế ấy, trên thế nào thì dưới thế ấy;
ngày thế nào thì đêm thế ấy, đêm thế nào thì ngày thế ấy.
Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che kín, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng.
Vị ấy tu tập thần túc có định nhờ quán sát, cùng với các hành tinh cần —
như vầy: quán sát của ta sẽ không quá lơi lỏng, cũng không quá căng; không co lại bên trong, cũng không tản ra bên ngoài.
Vị ấy trú với nhận biết về phía sau và phía trước —
phía trước thế nào thì phía sau thế ấy, phía sau thế nào thì phía trước thế ấy;
dưới thế nào thì trên thế ấy, trên thế nào thì dưới thế ấy;
ngày thế nào thì đêm thế ấy, đêm thế nào thì ngày thế ấy.
Như vậy, với tâm rộng mở, không bị che kín, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng.
Nhờ bốn thần túc được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo cảm nhận được nhiều loại thần thông: đang là một, vị ấy trở thành nhiều; đang là nhiều, vị ấy trở thành một; hiện ra rồi ẩn đi; đi xuyên qua tường, qua thành, qua núi mà không bị cản, như đi trong hư không; lặn xuống và trồi lên trong đất như trong nước; đi trên nước mà không làm nước rẽ ra, như đi trên đất; ngồi kiết-già đi trong hư không, như con chim có cánh; chạm và nắm mặt trăng, mặt trời — những bậc có thần lực lớn, oai lực lớn như vậy — bằng bàn tay; và có thể dùng thân điều khiển cho đến cõi Phạm thiên.
Nhờ bốn thần túc được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nghe được hai loại tiếng — tiếng của chư thiên và tiếng của loài người, tiếng xa và tiếng gần — bằng thiên nhĩ đã được thanh tịnh, vượt khỏi giới hạn của loài người.
Nhờ bốn thần túc được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo biết được tâm của các chúng sinh khác, của các người khác, sau khi đã dùng tâm của mình mà nắm lấy tâm của họ.
Vị ấy biết tâm có tham là tâm có tham;
Vị ấy biết tâm không tham là tâm không tham;
Vị ấy biết tâm có sân là tâm có sân;
Vị ấy biết tâm không sân là tâm không sân;
Vị ấy biết tâm có si là tâm có si;
Vị ấy biết tâm không si là tâm không si;
Vị ấy biết tâm co lại là tâm co lại;
Vị ấy biết tâm tản ra là tâm tản ra;
Vị ấy biết tâm rộng lớn là tâm rộng lớn;
Vị ấy biết tâm không rộng lớn là tâm không rộng lớn;
Vị ấy biết tâm có cái cao hơn là tâm có cái cao hơn;
Vị ấy biết tâm không có cái cao hơn là tâm không có cái cao hơn;
Vị ấy biết tâm định tĩnh là tâm định tĩnh;
Vị ấy biết tâm không định tĩnh là tâm không định tĩnh;
Vị ấy biết tâm giải thoát là tâm giải thoát;
Vị ấy biết tâm không giải thoát là tâm không giải thoát.
Nhờ bốn thần túc được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nhớ lại nhiều đời sống trước: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời; nhiều kiếp co lại, nhiều kiếp mở ra, nhiều kiếp co lại rồi mở ra: Ở nơi ấy ta đã có tên như vậy, dòng dõi như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm nhận khổ vui như vậy, tuổi thọ như vậy; từ đó chết đi, ta sinh ra ở nơi khác; ở nơi ấy ta cũng có tên như vậy, dòng dõi như vậy, màu da như vậy, thức ăn như vậy, cảm nhận khổ vui như vậy, tuổi thọ như vậy; từ đó chết đi, ta sinh ra ở đây. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước, với các đặc điểm và các chi tiết.
Nhờ bốn thần túc được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh, kẻ hạ liệt và kẻ cao quý, kẻ đẹp và kẻ xấu, kẻ đi đến chỗ lành và kẻ đi đến chỗ dữ, những chúng sinh đi theo nghiệp của mình — bằng thiên nhãn đã được thanh tịnh, vượt khỏi giới hạn của loài người — và biết rằng: Những chúng sinh này đã làm điều ác nơi thân, đã làm điều ác nơi lời, đã làm điều ác nơi ý, đã nói xấu các bậc thánh, có tà kiến, nhận lấy nghiệp từ tà kiến; sau khi chết, khi thân hoại, họ sinh vào chỗ khổ, vào đường dữ, vào nơi sa đọa, vào địa ngục. Còn những chúng sinh này đã làm điều lành nơi thân, đã làm điều lành nơi lời, đã làm điều lành nơi ý, đã không nói xấu các bậc thánh, có chánh kiến, nhận lấy nghiệp từ chánh kiến; sau khi chết, khi thân hoại, họ sinh vào chỗ lành, vào cõi trời, vào thế giới của chư thiên. Như vậy, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết và đang sinh, kẻ hạ liệt và kẻ cao quý, kẻ đẹp và kẻ xấu, kẻ đi đến chỗ lành và kẻ đi đến chỗ dữ, những chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Nhờ bốn thần túc được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này tự mình chứng ngộ và an trú tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát."
Bài thứ mười một.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.