buppou

Tương Ưng Bộ · SN 18.7

Kinh Tư

Sañcetanāsutta — bài thứ bảy

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ bảy hỏi về tư — cái cố ý.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, sắc tư là thường hay vô thường?

Tư là chỗ ý muốn bắt đầu. Trước khi có một hành động, có một sự nghiêng về; và sự nghiêng ấy là tư. Trong mười hai nhân duyên, nó đứng ngay sau xúc và thọ.

Đặt tư vào cùng một câu hỏi với mắt và với sắc là một việc làm có chủ ý. Người ta dễ thấy cái tôi muốn là của mình; khó thấy nó cũng là một thứ sinh ra do điều kiện và sẽ mất.

Bài kinh không nói tư là ảo. Nó hỏi tư có thường không. Và câu trả lời ấy không làm tư biến mất — nó chỉ làm cho tư không còn là chỗ dựa.

Đó là một sự khác biệt lớn, và nó là sự khác biệt của cả tương ưng này: không có gì bị phủ nhận, chỉ có một thứ bị lấy đi — tư cách của ta.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.

Phẩm Thứ Nhất (Paṭhamavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rāhula.

Kinh Tư (Sañcetanāsutta) — bài thứ bảy.


"Tại Sāvatthī.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,

sắc tư là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

thanh tư là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

hương tư là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

vị tư là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

xúc tư là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

pháp tư là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với sắc tư, nhàm chán đối với thanh tư, nhàm chán đối với hương tư, nhàm chán đối với vị tư, nhàm chán đối với xúc tư, nhàm chán đối với pháp tư; do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."

Bài thứ bảy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →