buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.124

Kinh Ugga Người Vesālī

Vesālīsutta — bài thứ nhất

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Phẩm thứ mười ba mở đầu bằng Ugga, trưởng giả người Vesālī, và câu hỏi của ông ta quay lại một khuôn đã quen từ phẩm trước:

Bạch Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà một số chúng sinh ở đây, ngay trong đời này, không nhập niết-bàn?

Đây là lần thứ ba câu hỏi ấy xuất hiện — sau Sakka và Pañcasikha. Và câu trả lời vẫn vậy: còn chấp thủ thì không nhập, không còn chấp thủ thì nhập.

Nhưng lần này nó được nói đầy đủ hơn hai lần trước. Bài 118 đi qua từng cửa nhưng ngắn; bài 119 rút gọn; bài này đi trọn sáu cửa với bốn đoạn cho mỗi cửa.

Và có một chữ đáng dừng lại lâu hơn cả: tannissitaṁ viññāṇaṁ hoti tadupādānaṁ — "thức nương tựa vào đó, chấp thủ vào đó".

Chữ nissita — nương tựa — là chữ của người dựa vào tường. Không phải "thích", không phải "muốn". Là dựa.

Và một cái thức dựa vào cái đang biến đổi thì không thể không lung lay. Đó không phải một lời răn; đó là một nhận xét về cấu trúc.

Bài này cũng đáng chú ý vì nó đứng đầu phẩm Gia Chủ — phẩm mà hầu hết nhân vật là cư sĩ. Ugga là trưởng giả, không phải tỳ-kheo. Và câu hỏi của ông ta là câu hỏi của một người chưa xuất gia hỏi về chuyện của những người đã xuất gia.

Đức Thế Tôn trả lời không một chút phân biệt: cùng một cơ chế, cùng một chỗ nghẽn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Gia Chủ (Gahapativagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Ugga Người Vesālī (Vesālīsutta) — bài thứ nhất.


"Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Vesālī, trong rừng Đại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn.

Rồi Ugga, trưởng giả người Vesālī, đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Ugga nói với Đức Thế Tôn rằng:

Bạch Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà một số chúng sinh ở đây, ngay trong đời này, không nhập niết-bàn?

Bạch Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà một số chúng sinh ở đây, ngay trong đời này, nhập niết-bàn?

Này gahapati, có những sắc được nhãn thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó. Với vị ấy, khi vui thích, hoan nghênh và bám vào mà an trú như vậy, thì thức nương tựa vào đó, chấp thủ vào đó.

Này gahapati, tỳ-kheo còn chấp thủ thì không nhập niết-bàn. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Này gahapati, có những vị được thiệt thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, và cũng vậy với các vật chạm được thân thức biết đến.

Này gahapati, có những pháp được ý thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo vui thích, hoan nghênh, bám vào và an trú nơi đó. Với vị ấy, khi vui thích, hoan nghênh và bám vào mà an trú như vậy, thì thức nương tựa vào đó, chấp thủ vào đó.

Này gahapati, tỳ-kheo còn chấp thủ thì không nhập niết-bàn.

Này gahapati, đấy là nhân, đấy là duyên mà một số chúng sinh ở đây, ngay trong đời này, không nhập niết-bàn.

Nhưng này gahapati, cũng có những sắc được nhãn thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo không vui thích, không hoan nghênh, không bám vào và an trú nơi đó. Với vị ấy, khi không vui thích, không hoan nghênh và không bám vào mà an trú như vậy, thì thức không nương tựa vào đó, không chấp thủ vào đó.

Này gahapati, tỳ-kheo không còn chấp thủ thì nhập niết-bàn. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Này gahapati, có những vị được thiệt thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, và cũng vậy với các vật chạm được thân thức biết đến.

Này gahapati, có những pháp được ý thức biết đến — đáng ưa, đáng thích, đáng vừa lòng, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, khơi gợi tham.

Nếu tỳ-kheo không vui thích, không hoan nghênh, không bám vào và an trú nơi đó. Với vị ấy thức không nương tựa vào đó, không chấp thủ vào đó.

Này gahapati, tỳ-kheo không còn chấp thủ thì nhập niết-bàn.

Này gahapati, đấy là nhân, đấy là duyên mà một số chúng sinh ở đây, ngay trong đời này, nhập niết-bàn."

Bài thứ nhất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →