Tương Ưng Bộ · SN 46.8
Kinh Upavāna
Upavānasutta — bài thứ tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Phẩm mở đầu của Tương Ưng Giác Chi, mười bài, mỗi bài một hình ảnh khác nhau cho cùng một bộ bảy pháp.
Tôn giả Sāriputta hỏi Tôn giả Upavāna điều gì khiến bảy giác chi sinh khởi nơi một vị tỳ-kheo.
Nếu đọc nhanh, bài này có vẻ trống. Đọc chậm thì thấy nó đang dạy một cách nhìn.
Bài này tên là Kinh Upavāna. Đây là bài thứ tám trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Núi.
Không có gì mới để hiểu, chỉ có một điều để làm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Núi (Pabbatavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Upavāna (Upavānasutta) — bài thứ tám.
"Một thuở nọ, Tôn giả Upavāna và Tôn giả Sāriputta trú tại Kosambī, trong vườn Ghosita.
Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi thiền tịnh, đến chỗ Tôn giả Upavāna; đến nơi, chào hỏi Tôn giả Upavāna.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Upavāna:
Này hiền giả Upavāna, vị tỳ-kheo có thể tự biết rằng nhờ như lý tác ý trong chính mình, bảy giác chi của ta đã được khéo khởi sự như vậy, đưa đến sự an trú dễ chịu không?
Này hiền giả Sāriputta, vị tỳ-kheo có thể tự biết rằng nhờ như lý tác ý trong chính mình, bảy giác chi của ta đã được khéo khởi sự như vậy, đưa đến sự an trú dễ chịu.
Này hiền giả, khi vị tỳ-kheo khởi sự niệm giác chi, vị ấy biết rằng tâm của ta khéo được giải thoát, hôn trầm thụy miên của ta đã được khéo trừ sạch, trạo cử hối quá của ta đã được khéo điều phục, tinh tấn của ta đã được khởi lên, ta tác ý với tâm cương quyết, không co lại.
Này hiền giả, khi vị tỳ-kheo khởi sự xả giác chi, vị ấy biết rằng tâm của ta khéo được giải thoát, hôn trầm thụy miên của ta đã được khéo trừ sạch, trạo cử hối quá của ta đã được khéo điều phục, tinh tấn của ta đã được khởi lên, ta tác ý với tâm cương quyết, không co lại.
Như vậy, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ-kheo có thể tự biết rằng nhờ như lý tác ý trong chính mình, bảy giác chi của ta đã được khéo khởi sự như vậy, đưa đến sự an trú dễ chịu."
Bài thứ tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.