Tương Ưng Bộ · SN 35.133
Kinh Verahaccāni
Verahaccānisutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười là bài kết phẩm, và nó cũng là một câu chuyện — nhưng lần này có hai lần mời cơm, và lần thứ hai mới là lần có pháp.
Mở đầu: Tôn giả Udāyī trú trong vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya. Một thanh niên học trò của nữ Bà-la-môn Verahaccāni đến, được Ngài giảng pháp, rồi về kể lại. Bà ta mời Ngài ăn cơm.
Và rồi — đây là chi tiết làm nên cả bài:
Rồi nữ Bà-la-môn Verahaccāni, khi Tôn giả Udāyī đã ăn xong và đã rút tay khỏi bát, mang dép vào, ngồi lên ghế cao, trùm đầu lại, và nói rằng: "Này sa-môn, hãy nói pháp đi." "Này chị, sẽ có lúc thích hợp." Nói vậy xong, Ngài đứng dậy và ra đi.
Một vị tỳ-kheo từ chối giảng pháp — không phải vì giận, mà vì cách mời. Người ta đang mang dép, ngồi cao hơn, trùm đầu. Đó là cách nói: "ta ở trên, ngươi ở dưới, nói đi".
Và khi thanh niên ấy kể lại chuyện này, bà ta hiểu ra — và đó là chỗ hay:
Nhưng thưa Bà, chính vì Bà mang dép vào, ngồi lên ghế cao, trùm đầu lại rồi nói: "Này sa-môn, hãy nói pháp đi."
Và lần thứ hai:
Bà ta cởi dép ra, ngồi xuống ghế thấp, mở đầu ra, và nói rằng: "Bạch Tôn giả, khi cái gì có mặt thì các bậc a-la-hán nói tới lạc và khổ; khi cái gì không có mặt thì các bậc a-la-hán không nói tới lạc và khổ?"
Và câu trả lời: khi sáu cửa có mặt thì các bậc a-la-hán nói tới lạc và khổ; khi sáu cửa không có mặt thì các bậc a-la-hán không nói tới lạc và khổ.
Đó là một trong những câu cô đọng nhất của cả Tương Ưng. Và nó là câu trả lời cho một câu hỏi được hỏi sau khi người hỏi đã sửa lại tư thế.
Bài này làm một việc mà ít bài dám làm: nó nói rằng cách hỏi cũng là một phần của câu hỏi. Và nó nói điều ấy không bằng lời giảng, mà bằng hai lần mời cơm.
Rồi kệ tóm tắt phẩm:
Vesālī, Vajjī, Nāḷandā, / Bhāradvāja, Soṇa và Ghosita; / Hāliddika, Nakulapitā, / Lohicca và Verahaccāni.
Mười bài. Và phẩm này là phẩm đa dạng nhất của Tương Ưng Sáu Xứ: ba bài rút gọn, một bài đối thoại với vua, hai bài kỹ thuật, và ba câu chuyện.
Đọc cả phẩm, có một sợi chỉ: mọi người đều hỏi được. Vua, trưởng giả, thanh niên, nữ Bà-la-môn, và cả một người đứng ngoài cửa. Và câu trả lời vẫn là một: còn nắm thì còn khổ — nhưng cách đi tới câu ấy thì không ai giống ai.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Gia Chủ (Gahapativagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Verahaccāni (Verahaccānisutta) — bài thứ mười.
"Một thuở nọ, Tôn giả Udāyī trú tại Kāmaṇḍā, trong vườn xoài của Bà-la-môn Todeyya.
Rồi một thanh niên học trò của nữ Bà-la-môn Verahaccāni đi đến chỗ Tôn giả Udāyī, chào hỏi thăm sức khỏe.
Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân thiện và đáng nhớ, cậu ấy ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, cậu ấy được Tôn giả Udāyī giảng pháp — chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn khởi, làm hoan hỷ bằng câu chuyện về pháp.
Rồi thanh niên ấy, sau khi được Tôn giả Udāyī giảng pháp, chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn khởi, làm hoan hỷ, đứng dậy đi đến chỗ nữ Bà-la-môn Verahaccāni.
Xin Bà hãy biết cho.
Sa-môn Udāyī giảng pháp tốt đẹp ở đầu, tốt đẹp ở giữa, tốt đẹp ở cuối, có ý nghĩa, có văn cú, hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, làm sáng tỏ đời sống phạm hạnh.
Vậy thì này thanh niên, hãy nhân lời ta, mời sa-môn Udāyī ngày mai dùng bữa ăn.
Thưa vâng, Bà. Thanh niên ấy vâng lời nữ Bà-la-môn Verahaccāni, đi đến chỗ Tôn giả Udāyī và nói rằng:
Xin Tôn giả Udāyī nhận lời bữa ăn ngày mai của nữ Bà-la-môn Verahaccāni, vợ của thầy con.
Tôn giả Udāyī nhận lời bằng sự im lặng.
Rồi Tôn giả Udāyī, khi đêm ấy qua đi, vào buổi sáng, sau khi mặc y, mang bát, đi đến nhà nữ Bà-la-môn Verahaccāni và ngồi xuống chỗ đã được sửa soạn.
Rồi nữ Bà-la-môn Verahaccāni tự tay dâng Tôn giả Udāyī những món ăn loại cứng và loại mềm thượng hạng, làm Ngài hài lòng và no đủ.
Rồi nữ Bà-la-môn Verahaccāni, khi Tôn giả Udāyī đã ăn xong và đã rút tay khỏi bát, mang dép vào, ngồi lên ghế cao, trùm đầu lại, và nói rằng:
Này sa-môn, hãy nói pháp đi.
Này chị, sẽ có lúc thích hợp. Nói vậy xong, Ngài đứng dậy và ra đi.
Lần thứ hai, thanh niên ấy đi đến chỗ Tôn giả Udāyī, chào hỏi thăm sức khỏe.
Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân thiện và đáng nhớ, cậu ấy ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, cậu ấy được Tôn giả Udāyī giảng pháp — chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn khởi, làm hoan hỷ bằng câu chuyện về pháp.
Rồi thanh niên ấy, sau khi được giảng pháp, đứng dậy đi đến chỗ nữ Bà-la-môn Verahaccāni.
Xin Bà hãy biết cho.
Sa-môn Udāyī giảng pháp tốt đẹp ở đầu, ở giữa, ở cuối, có ý nghĩa, có văn cú, làm sáng tỏ đời sống phạm hạnh.
Nhưng này thanh niên, ngươi ca ngợi sa-môn Udāyī y như vậy à?
Và sa-môn Udāyī, khi được bảo “này sa-môn, hãy nói pháp đi”, lại nói “này chị, sẽ có lúc thích hợp” rồi đứng dậy ra đi.
Nhưng thưa Bà, chính vì Bà mang dép vào, ngồi lên ghế cao, trùm đầu lại rồi nói:
“Này sa-môn, hãy nói pháp đi.”
Các Ngài ấy tôn trọng pháp, kính trọng pháp.
Vậy thì này thanh niên, hãy nhân lời ta, mời sa-môn Udāyī ngày mai dùng bữa ăn.
Thưa vâng, Bà. Thanh niên ấy vâng lời, đi đến chỗ Tôn giả Udāyī và nói rằng:
Xin Tôn giả Udāyī nhận lời bữa ăn ngày mai của nữ Bà-la-môn Verahaccāni, vợ của thầy con.
Tôn giả Udāyī nhận lời bằng sự im lặng.
Rồi Tôn giả Udāyī, khi đêm ấy qua đi, vào buổi sáng, sau khi mặc y, mang bát, đi đến nhà nữ Bà-la-môn Verahaccāni và ngồi xuống chỗ đã được sửa soạn.
Rồi nữ Bà-la-môn Verahaccāni tự tay dâng Tôn giả Udāyī những món ăn loại cứng và loại mềm thượng hạng, làm Ngài hài lòng và no đủ.
Rồi nữ Bà-la-môn Verahaccāni, khi Tôn giả Udāyī đã ăn xong và đã rút tay khỏi bát, cởi dép ra, ngồi xuống ghế thấp, mở đầu ra, và nói rằng:
Bạch Tôn giả, khi cái gì có mặt thì các bậc a-la-hán nói tới lạc và khổ; khi cái gì không có mặt thì các bậc a-la-hán không nói tới lạc và khổ?
Này chị, khi con mắt có mặt thì các bậc a-la-hán nói tới lạc và khổ; khi con mắt không có mặt thì các bậc a-la-hán không nói tới lạc và khổ. Cũng vậy với tai, mũi, thân.
Khi cái lưỡi có mặt thì các bậc a-la-hán nói tới lạc và khổ; khi cái lưỡi không có mặt thì các bậc a-la-hán không nói tới lạc và khổ.
Khi ý có mặt thì các bậc a-la-hán nói tới lạc và khổ; khi ý không có mặt thì các bậc a-la-hán không nói tới lạc và khổ.
Nghe vậy, nữ Bà-la-môn Verahaccāni nói với Tôn giả Udāyī rằng:
Thật vi diệu thay, bạch Tôn giả; thật vi diệu thay, bạch Tôn giả.
Ví như có người dựng đứng lại cái bị lật ngược, mở ra cái bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm đèn dầu trong bóng tối để những ai có mắt thấy được hình sắc — cũng vậy, Tôn giả đã làm sáng tỏ pháp bằng nhiều cách.
Bạch Tôn giả Udāyī, con xin quy y Đức Thế Tôn ấy, cùng pháp và tăng đoàn tỳ-kheo.
Xin Tôn giả Udāyī nhận con làm cư sĩ tại gia, từ hôm nay cho đến trọn đời, đã quy y."
Bài thứ mười.
Phẩm Gia Chủ, phẩm thứ ba, đến đây là hết.
Kệ tóm tắt phẩm:
Vesālī, Vajjī, Nāḷandā,
Bhāradvāja, Soṇa và Ghosita;
Hāliddika, Nakulapitā,
Lohicca và Verahaccāni.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.