buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.245

Kinh Ví Dụ Cây Kiṁsuka

Kiṁsukopamasutta — bài thứ bảy mươi tám

10 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ tám là một bài kể chuyện về chính việc học — và nó có một cấu trúc rất lạ.

Một tỳ-kheo đi hỏi bốn vị khác nhau cùng một câu: đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Và bốn vị trả lời bốn cách khác nhau:

Vị tríCâu trả lời
Thứ haibiết sự sinh khởi và chấm dứt của năm thủ uẩn
Thứ babiết sự sinh khởi và chấm dứt của bốn đại chủng
Thứ tưbiết cái gì là pháp sinh khởi thì tất cả là pháp chấm dứt

Tỳ-kheo ấy không thỏa mãn với cả bốn — và đi hỏi Đức Thế Tôn.

Câu trả lời của Đức Thế Tôn không phải là chọn một trong bốn. Ngài kể một câu chuyện.

Ví như một người chưa từng thấy cây kiṁsuka. Người ấy hỏi một người đã thấy. Người ấy đáp: cây kiṁsuka màu đen, như một gốc cây bị cháy. Và lúc ấy, cây kiṁsuka đúng là như vậy, đúng như cái thấy của người ấy.

Rồi người ấy hỏi ba người khác nữa, và được trả lời: màu đỏ, như một miếng thịt; đã rụng hết lá, như cây sirīsa; có lá dày, cho bóng mát, như cây nigrodha.

Và mỗi lần: lúc ấy cây kiṁsuka đúng là như vậy.

Đó là câu trả lời. Cây kiṁsuka — cây vông nem — đổi màu theo mùa: lúc trơ cành thì đen, lúc ra hoa thì đỏ, lúc có quả thì khác, lúc lá dày thì xanh. Bốn người nói bốn điều, và cả bốn đều đúng — vì họ thấy những lúc khác nhau.

Rồi Đức Thế Tôn kết:

Tùy theo cách mà cái thấy của các bậc chân nhân ấy được hoàn toàn thanh tịnh, thì tùy theo cách ấy các bậc chân nhân ấy đã trả lời.

Nghĩa là: bốn câu trả lời không mâu thuẫn. Chúng là bốn mặt của một cái cây.

Nhưng bài này không dừng ở đó — nó còn một ẩn dụ thứ hai, và đó là chỗ tôi thấy sâu hơn:

Ví như một thành trấn biên giới có sáu cổng, với một người gác cổng thông minh, không cho người lạ vào, cho người quen vào. Một cặp sứ giả nhanh nhẹn đi đến từ phía đông và hỏi: người chủ của thành này ở đâu? — Vị ấy đang ngồi ở giữa ngã tư.

Và phần giải nghĩa:

Hình ảnhNghĩa
Sáu cổngsáu nội xứ
Người gác cổngchánh niệm
Cặp sứ giả nhanh nhẹnchỉ và quán
Người chủ thànhthức
Ngã tư ở giữabốn đại chủng
Lời đúng như thậtniết-bàn
Con đường đã đếnbát chánh đạo

Hai ẩn dụ ấy ghép lại thì thành một điều rất gọn: cái thấy thì nhiều mặt như cây kiṁsuka, nhưng con đường thì chỉ một — và nó đi qua sáu cổng, có một người gác, và dẫn tới chỗ người chủ đang ngồi.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Rắn Độc (Āsīvisavagga) — phẩm thứ mười chín của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Ví Dụ Cây Kiṁsuka (Kiṁsukopamasutta) — bài thứ bảy mươi tám.


"Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ một tỳ-kheo khác; đến rồi, nói với tỳ-kheo ấy rằng:

Này hiền giả, đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Này hiền giả, khi nào tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ, thì này hiền giả, đến mức ấy cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh.

Rồi tỳ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của tỳ-kheo kia, đi đến chỗ một tỳ-kheo khác; đến rồi, nói với tỳ-kheo ấy rằng:

Này hiền giả, đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Này hiền giả, khi nào tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn, thì này hiền giả, đến mức ấy cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh.

Rồi tỳ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của tỳ-kheo kia, đi đến chỗ một tỳ-kheo khác; đến rồi, nói với tỳ-kheo ấy rằng:

Này hiền giả, đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Này hiền giả, khi nào tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi và sự chấm dứt của bốn đại chủng, thì này hiền giả, đến mức ấy cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh.

Rồi tỳ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của tỳ-kheo kia, đi đến chỗ một tỳ-kheo khác; đến rồi, nói với tỳ-kheo ấy rằng:

Này hiền giả, đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Này hiền giả, khi nào tỳ-kheo biết đúng như thật rằng cái gì là pháp sinh khởi, thì tất cả cái ấy là pháp chấm dứt, thì này hiền giả, đến mức ấy cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh.

Rồi tỳ-kheo ấy không thỏa mãn với câu trả lời của tỳ-kheo kia, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, bạch Đức Thế Tôn rằng: Bạch Thế Tôn, con đã đi đến chỗ một tỳ-kheo; đến rồi, con nói với tỳ-kheo ấy rằng:

Này hiền giả, đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Bạch Thế Tôn, khi con nói vậy, tỳ-kheo ấy nói với con rằng:

Này hiền giả, khi nào tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi và sự chấm dứt của sáu xúc xứ, thì này hiền giả, đến mức ấy cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh.

Rồi bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn với câu trả lời của tỳ-kheo ấy, con đi đến chỗ một tỳ-kheo khác; đến rồi, con nói với tỳ-kheo ấy rằng:

Này hiền giả, đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Bạch Thế Tôn, khi con nói vậy, tỳ-kheo ấy nói với con rằng:

Này hiền giả, khi nào tỳ-kheo biết đúng như thật sự sinh khởi và sự chấm dứt của năm thủ uẩn.

bốn đại chủng — sự sinh khởi và sự chấm dứt.

Này hiền giả, khi nào tỳ-kheo biết đúng như thật rằng cái gì là pháp sinh khởi, thì tất cả cái ấy là pháp chấm dứt, thì này hiền giả, đến mức ấy cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh.

Rồi bạch Thế Tôn, con không thỏa mãn với câu trả lời của tỳ-kheo ấy, con đi đến chỗ Đức Thế Tôn.

Bạch Thế Tôn, đến mức nào thì cái thấy của tỳ-kheo được hoàn toàn thanh tịnh?

Ví như, này tỳ-kheo, một người chưa từng thấy cây kiṁsuka.

Người ấy đi đến chỗ một người đã thấy cây kiṁsuka; đến rồi, nói với người ấy rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka như thế nào?

Người ấy nói rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka màu đen, như một gốc cây bị cháy.

Và này tỳ-kheo, lúc ấy cây kiṁsuka đúng là như vậy, đúng như cái thấy của người ấy.

Rồi này tỳ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến chỗ một người khác đã thấy cây kiṁsuka; đến rồi, nói với người ấy rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka như thế nào?

Người ấy nói rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka màu đỏ, như một miếng thịt.

Và này tỳ-kheo, lúc ấy cây kiṁsuka đúng là như vậy, đúng như cái thấy của người ấy.

Rồi này tỳ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến chỗ một người khác đã thấy cây kiṁsuka; đến rồi, nói với người ấy rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka như thế nào?

Người ấy nói rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka đã rụng hết lá, quả của nó đã nứt ra, như cây sirīsa.

Và này tỳ-kheo, lúc ấy cây kiṁsuka đúng là như vậy, đúng như cái thấy của người ấy.

Rồi này tỳ-kheo, người ấy không thỏa mãn với câu trả lời của người kia, đi đến chỗ một người khác đã thấy cây kiṁsuka; đến rồi, nói với người ấy rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka như thế nào?

Người ấy nói rằng:

Này người kia, cây kiṁsuka có lá dày, cho bóng mát, như cây nigrodha.

Và này tỳ-kheo, lúc ấy cây kiṁsuka đúng là như vậy, đúng như cái thấy của người ấy.

Cũng vậy, này tỳ-kheo, tùy theo cách mà cái thấy của các bậc chân nhân ấy được hoàn toàn thanh tịnh, thì tùy theo cách ấy các bậc chân nhân ấy đã trả lời.

Ví như, này tỳ-kheo, một thành trấn biên giới của vua, được đắp kiên cố, có tường và hào kiên cố, có sáu cổng.

Ở đó có một người gác cổng thông minh, khéo léo, có trí tuệ, không cho người lạ vào, cho người quen vào.

Một cặp sứ giả nhanh nhẹn đi đến từ phía đông và nói với người gác cổng ấy rằng:

Này người kia, người chủ của thành này ở đâu?

Người ấy nói rằng:

Thưa ngài, vị ấy đang ngồi ở giữa ngã tư.

Rồi cặp sứ giả nhanh nhẹn ấy trao đúng lời cho người chủ thành, rồi đi theo con đường đã đến.

Một cặp sứ giả nhanh nhẹn đi đến từ phía tây — cũng vậy.

từ phía bắc — cũng vậy.

Một cặp sứ giả nhanh nhẹn đi đến từ phía nam và nói với người gác cổng ấy rằng:

Này người kia, người chủ của thành này ở đâu?

Người ấy nói rằng:

Thưa ngài, vị ấy đang ngồi ở giữa ngã tư.

Rồi cặp sứ giả nhanh nhẹn ấy trao đúng lời cho người chủ thành, rồi đi theo con đường đã đến.

Này tỳ-kheo, ví dụ ấy Ta đã làm ra để làm rõ ý nghĩa.

Và ý nghĩa ở đây là thế này:

Thành trấn — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của thân này, do bốn đại chủng hợp thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, chịu sự sinh, chịu sự già, chịu sự hao mòn, chịu sự tiêu hoại, chịu sự tan rã.

Sáu cổng — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của sáu nội xứ.

Người gác cổng — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của chánh niệm.

Cặp sứ giả nhanh nhẹn — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của chỉ và quán.

Người chủ thành — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của thức.

Ngã tư ở giữa — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của bốn đại chủng:

địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

Lời đúng như thật — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của niết-bàn.

Con đường đã đến — này tỳ-kheo, ấy là tên gọi của bát chánh đạo, tức là:

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định."

Bài thứ tám.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →