buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.68

Kinh Vô Ngã

Anattasutta — bài thứ sáu

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Vô Ngã (Anattasutta) là bài thứ ba của loạt năm bài, và là bài dễ bị đọc lướt nhất — vì nó chỉ có một câu.

Này tỳ-kheo, hãy từ bỏ tham đối với cái gì là vô ngã.

Sắc, thọ, tưởng, các hành, thức đều là vô ngã — nên hãy từ bỏ tham đối với chúng.

Nhưng để ý: nếu cái gì cũng vô ngã, thì tham đối với chúng là tham đối với cái không có chủ. Bài này không cần lập luận dài; nó chỉ cần chỉ ra rằng đối tượng của tham không hề tồn tại theo cách ta tưởng.

Ba bài 66–68 xếp lại thành một bộ hoàn chỉnh: vô thường — khổ — vô ngã. Đó cũng chính là ba cửa quán quen thuộc.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm A-la-hán (Arahantavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Vô Ngã (Anattasutta) — bài thứ sáu.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

Bấy giờ một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên.

"Bạch Thế Tôn, lành thay, xin Đức Thế Tôn dạy con pháp vắn tắt. Nghe xong, con sẽ sống một mình, viễn ly, tinh cần, nhiệt tâm, kiên trì."

"Này tỳ-kheo, hãy từ bỏ tham đối với cái gì là vô ngã."

"Đã hiểu, bạch Thế Tôn! Đã hiểu, bạch Thiện Thệ!"

"Nhưng này tỳ-kheo, ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời ta dạy vắn tắt ấy thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, sắc là vô ngã; con hãy từ bỏ tham đối với sắc.

Thọ là vô ngã; con hãy từ bỏ tham đối với thọ.

Tưởng là vô ngã; con hãy từ bỏ tham đối với tưởng.

Các hành là vô ngã; con hãy từ bỏ tham đối với các hành.

Thức là vô ngã; con hãy từ bỏ tham đối với thức.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời Đức Thế Tôn dạy vắn tắt."

"Lành thay, lành thay, này tỳ-kheo!

Lành thay, ông đã hiểu ý nghĩa chi tiết của lời ta dạy vắn tắt như vậy.

Sắc là vô ngã; ông hãy từ bỏ tham đối với sắc.

Thọ là vô ngã; ông hãy từ bỏ tham đối với thọ.

Tưởng là vô ngã; ông hãy từ bỏ tham đối với tưởng.

Các hành là vô ngã; ông hãy từ bỏ tham đối với các hành.

Thức là vô ngã; ông hãy từ bỏ tham đối với thức.

Đó là cách để thấy ý nghĩa chi tiết của lời ta dạy vắn tắt."

Rồi vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, và sau đó sống một mình, viễn ly, tinh cần, nhiệt tâm, kiên trì, không bao lâu sau tự mình chứng ngộ và trở thành một trong những bậc a-la-hán.

Kinh Vô Ngã, bài thứ sáu, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →