Tương Ưng Bộ · SN 35.203
Kinh Vô Ngã Nơi Hiện Tại Ngoại Xứ
Bāhirātītādianattasutta — bài thứ ba mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ ba mươi bảy đóng khối ba tính chất × ba thời, và nó là bài cuối của mười tám bài.
Này các tỳ-kheo, các pháp là vô ngã, thuộc hiện tại.
Rồi chuỗi nhàm chán, ly tham, giải thoát, sinh đã tận.
Ba mươi bảy bài đã qua — hơn nửa phẩm. Và từ đây, phẩm đổi hẳn.
Bài 204 mở đầu bằng một câu mà chúng ta chưa gặp trong phẩm này:
Con mắt là vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Chuỗi bốn câu ấy là công thức mà cả bộ Tương Ưng dẫn tới — và ở đây nó được nói đầy đủ, ba lần, cho mắt, lưỡi, ý.
Nghĩa là: ba mươi bảy bài vừa qua đã dựng cái gì đó. Bây giờ nó được nói ra.
Và cái được nói ra không phải một sự thật mới — nó là lý do của tất cả những gì đã nói.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Ngã Nơi Hiện Tại Ngoại Xứ (Bāhirātītādianattasutta) — bài thứ ba mươi sáu.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, các tiếng là vô ngã, các mùi là vô ngã, các vị là vô ngã, các vật chạm là vô ngã và các pháp là vô ngã, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.