buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.202

Kinh Vô Ngã Nơi Vị Lai Ngoại Xứ

Bāhirātītādianattasutta — bài thứ ba mươi lăm

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba mươi sáu đổi quá khứ thành vị lai trong khối vô ngã ngoại xứ.

Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, các tiếng là vô ngã, các mùi là vô ngã, các vị là vô ngã, các vật chạm là vô ngã và các pháp là vô ngã, tất cả đều thuộc vị lai.

Rồi chuỗi quen thuộc.

Đến đây, chỉ còn một bài nữa cho hết khối ba tính chất × ba thời (bài 203), rồi phẩm đổi giọng ở bài 204.

Và sự đổi giọng ấy đáng để chờ: từ bài 204, mỗi bài dài hơn — mười bốn đoạn thay vì bốn — và mỗi bài có một lập luận thay vì một danh sách.

Nghĩa là: mười tám bài vừa qua là phần hẹp nhất của phẩm, và mười tám bài tới là phần sâu nhất.

Đó là một nhịp rất cổ điển: dàn trải rộng, rồi đi sâu. Và nó có lẽ là nhịp của một buổi tụng: phần đầu để nhớ, phần sau để hiểu.

Nếu đọc liền một mạch, người đọc sẽ cảm thấy sự đổi ấy rõ như một cánh cửa mở.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Ngã Nơi Vị Lai Ngoại Xứ (Bāhirātītādianattasutta) — bài thứ ba mươi lăm.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, các tiếng là vô ngã, các mùi là vô ngã, các vị là vô ngã, các vật chạm là vô ngã và các pháp là vô ngã, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →