Tương Ưng Bộ · SN 35.201
Kinh Vô Ngã Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ
Bāhirātītādianattasutta — bài thứ ba mươi tư
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ ba mươi lăm mở khối cuối của cánh phải: vô ngã × ba thời × ngoại xứ.
Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, các tiếng là vô ngã, các mùi là vô ngã, các vị là vô ngã, các vật chạm là vô ngã và các pháp là vô ngã, tất cả đều thuộc quá khứ.
Rồi chuỗi nhàm chán, ly tham, giải thoát, sinh đã tận.
Ba bài 201, 202, 203 đóng cả cánh phải — và chúng cũng đóng toàn bộ phần "ba tính chất × ba thời", tức là bài 186–203.
Mười tám bài ấy là nửa phẩm. Và nếu đọc theo cặp như tôi đề nghị ở bài 195, chúng rút lại còn chín ý, và chín ý ấy là: ba tính chất × ba thời.
Đó là một bảng ba nhân ba, và bảng ấy là toàn bộ nội dung của mười tám bài.
Tôi nghĩ đây là chỗ nên nói thẳng: một phẩm sáu mươi bài có thể có ít ý hơn một bài giảng một giờ. Và điều ấy không làm nó kém giá trị — nó làm nó khác loại.
Nó không phải một bài giảng. Nó là một công cụ để tụng — và công cụ thì được đánh giá bằng công dụng, không bằng độ mới.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Ngã Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ (Bāhirātītādianattasutta) — bài thứ ba mươi tư.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, các tiếng là vô ngã, các mùi là vô ngã, các vị là vô ngã, các vật chạm là vô ngã và các pháp là vô ngã, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.