buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.204

Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Rồi Vô Ngã

Ajjhattātītayadaniccasutta — bài thứ ba mươi bảy

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba mươi tám mở một khối hoàn toàn khác: mười tám bài về chuỗi suy luận.

Con mắt là vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Rồi lặp lại y hệt cho cái lưỡi, rồi cho ý. Ba lần, bốn câu, mười hai đoạn. Rồi chuỗi kết.

Đó là công thức ba bước nổi tiếng nhất của kinh Pali:

vô thường → khổ → vô ngã.

Và có một điều đáng chú ý về cách nó được dùng ở đây: nó không được giảng, nó được áp.

Không có một câu nào giải thích vì sao vô thường dẫn tới khổ. Không có một câu nào giải thích vì sao khổ dẫn tới vô ngã.

Hai mắt nối ấy được mặc định. Và sự mặc định ấy là một giả định về người nghe: họ đã nghe hai mắt nối ấy ở chỗ khác, nhiều lần.

Với người đọc hôm nay, hai mắt nối ấy không hiển nhiên. Và đó là chỗ mà một bản dịch nên nói thêm — nhưng phải nói ở lời giới thiệu, không ở bản văn.

Vì bản văn không nói. Và dịch là không thêm vào bản văn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Rồi Vô Ngã (Ajjhattātītayadaniccasutta) — bài thứ ba mươi bảy.


"Con mắt là vô thường, thuộc quá khứ.

Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ.

Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.

Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Cái lưỡi là vô thường, thuộc quá khứ.

Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ.

Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.

Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Ý là vô thường, thuộc quá khứ.

Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ.

Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.

Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc; nhàm chán đối với cái lưỡi, các vị, thiệt thức, thiệt xúc; nhàm chán đối với ý, các pháp, ý thức, ý xúc.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát; vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →