buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.9

Kinh Vô Ngã Nội Phần (II)

Ajjhattānattātītānāgatasutta — bài thứ chín

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Vô Ngã Nội Phần (II) (Ajjhattānattātītānāgatasutta) hoàn tất nửa đầu của phép nhân: nội phần, ba tính chất, hai thời.

Bài này có một điểm rất tinh tế trong cách dịch. Cụm atītānāgata ghép hai tính từ: đã qua và chưa đến. Nhưng cái mà nó mô tả — mắt — thì không thể vừa đã qua vừa chưa đến theo nghĩa thông thường.

Cách hiểu đúng là: mắt đã có trong quá khứ, và sẽ có trong tương lai; cả hai cái ấy đều vô ngã. Và cái đang có mặt bây giờ — cái duy nhất ta thật sự tiếp xúc — thì chỉ là một điểm rất mỏng giữa hai cái không có thật ấy.

Cái ta gọi là "mắt tôi" phần lớn là ký ức về mắt và dự đoán về mắt. Cái đang thấy, ngay lúc này, thì không có tên.

Đó là chỗ bài kinh đặt câu hỏi của nó. Và câu trả lời không phải một khẳng định, mà một cách nhìn: cái gì đã qua thì không còn mong; cái gì chưa đến thì không mừng; cái gì đang có thì đang được nhìn cho rõ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Ngã Nội Phần (II) (Ajjhattānattātītānāgatasutta) — bài thứ chín.


"Mắt là vô ngã, đã qua và chưa đến;

huống nữa là mắt hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi mắt đã qua;

không hoan hỷ với mắt chưa đến;

đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt mắt hiện tại.

Tai là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là tai hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi tai đã qua; không hoan hỷ với tai chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt tai hiện tại.

Mũi là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là mũi hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi mũi đã qua; không hoan hỷ với mũi chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt mũi hiện tại.

Lưỡi là vô ngã, đã qua và chưa đến;

huống nữa là lưỡi hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi lưỡi đã qua;

không hoan hỷ với lưỡi chưa đến;

đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt lưỡi hiện tại.

Thân là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là thân hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi thân đã qua; không hoan hỷ với thân chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt thân hiện tại.

Ý là vô ngã, đã qua và chưa đến;

huống nữa là ý hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi ý đã qua;

không hoan hỷ với ý chưa đến;

đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt ý hiện tại."

Bài thứ chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →