buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.18

Kinh Vô Thường do Nhân Duyên

Sahetuaniccasutta — bài thứ bảy

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Vô Thường do Nhân Duyên (Sahetuaniccasutta) đẩy lập luận lùi thêm một bước, và đây là bước hay nhất của phẩm.

Bài 12 chỉ nói: năm uẩn là vô thường. Bài này hỏi tiếp: vì sao chúng vô thường?

Sắc là vô thường. Nhân và duyên nào làm sinh ra sắc, cái ấy cũng vô thường. Sắc được sinh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường được?

Cách lập luận rất gọn: không cần biết sắc là gì, chỉ cần biết cái làm ra nó cũng vô thường. Cái gì được làm ra từ nguyên liệu không bền thì không bền theo — chuyện đơn giản nhưng bị bỏ quên, vì ta thường nhìn vật đã thành hình mà quên cái đã sinh ra nó.

Điều này cũng giải thích vì sao Tương Ưng Uẩn dành hẳn một phẩm cho cùng vài chữ: mỗi bài không nói thêm một sự thật mới, mà đào sâu thêm một tầng của sự thật cũ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Đạo.

Kinh Vô Thường do Nhân Duyên (Sahetuaniccasutta) — bài thứ bảy.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, sắc là vô thường.

Nhân nào, duyên nào làm sinh ra sắc, cái ấy cũng vô thường.

Sắc được sinh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường được?

Thọ là vô thường.

Nhân nào, duyên nào làm sinh ra thọ, cái ấy cũng vô thường.

Thọ được sinh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường được?

Tưởng là vô thường. Nhân nào, duyên nào làm sinh ra tưởng, cái ấy cũng vô thường. Tưởng được sinh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường được?

Các hành là vô thường.

Nhân nào, duyên nào làm sinh ra các hành, cái ấy cũng vô thường.

Các hành được sinh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường được?

Thức là vô thường.

Nhân nào, duyên nào làm sinh ra thức, cái ấy cũng vô thường.

Thức được sinh ra từ cái vô thường, làm sao có thể thường được?

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử có học hiểu nhàm chán sắc, thọ, tưởng, các hành, thức. Nhàm chán nên ly tham; ly tham nên giải thoát; khi giải thoát, vị ấy biết mình đã giải thoát.

Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"

Kinh Vô Thường do Nhân Duyên, bài thứ bảy, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →