buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.214

Kinh Vô Thường Nơi Vị Lai Rồi Khổ Ngoại Xứ

Bāhirātītādiyadaniccasutta — bài thứ bốn mươi bảy

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ bốn mươi tám đổi quá khứ thành vị lai trong khối ngoại xứ đủ ba bước.

Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, thuộc vị lai. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã; và cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Rồi năm cảnh còn lại, rồi chuỗi kết.

Và đến đây, có một câu hỏi về bản dịch mà tôi muốn trả lời công khai, vì nó sẽ được hỏi.

Tại sao dịch "các pháp" mà không dịch "các ý niệm" hay "các đối tượng của ý"?

Dhamma ở đây là cảnh của ý — cái thứ sáu trong sáu cảnh. Nó gồm ý niệm, kỷ niệm, hình ảnh, khái niệm — tất cả những gì ý có thể biết.

Tôi chọn các pháp vì hai lý do: nó đúng (đây là nghĩa gốc trong ngữ cảnh saḷāyatana), và nó nhất quán với cách dịch pháp ở những chỗ khác trong bộ kinh này.

Nhưng tôi biết nó không dễ đọc với người mới. Và đó là một cái giá tôi chấp nhận: giữ đúng thuật ngữ quan trọng hơn làm mượt câu.

Người đọc có quyền không đồng ý — nhưng nên biết lý do.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Thường Nơi Vị Lai Rồi Khổ Ngoại Xứ (Bāhirātītādiyadaniccasutta) — bài thứ bốn mươi bảy.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, thuộc vị lai.

Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.

Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là vô thường, thuộc vị lai; cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →