Tương Ưng Bộ · SN 35.213
Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Rồi Khổ Ngoại Xứ
Bāhirātītādiyadaniccasutta — bài thứ bốn mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ bốn mươi bảy mở cánh ngoại xứ của khối suy luận, với đủ ba bước.
Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, thuộc quá khứ. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp.
Rồi chuỗi kết.
Đó là bản đối xứng của bài 204, và nó có sáu đoạn thay vì mười bốn — vì sáu cảnh được gộp vào một câu thay vì đi từng cái.
Nghĩa là cánh ngoại nén hơn cánh nội, dù cùng nội dung. Và sự nén ấy tăng dần: bài 213 nén phần giữa, bài 216 nén hơn, bài 219 nén nhất.
Đó là một đường dốc thứ hai, chồng lên đường dốc thứ nhất (đủ → hai bước → một bước).
Hai đường dốc cùng chiều — và kết quả là phẩm kết thúc rất nhanh, sau khi đã mở rất chậm.
Đó là một nhịp có chủ ý, và tôi nghĩ nó là nhịp của một buổi lễ: vào chậm, ra nhanh.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Rồi Khổ Ngoại Xứ (Bāhirātītādiyadaniccasutta) — bài thứ bốn mươi sáu.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, thuộc quá khứ.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là vô thường, thuộc quá khứ; cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.