buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.215

Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Rồi Khổ Ngoại Xứ

Bāhirātītādiyadaniccasutta — bài thứ bốn mươi tám

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ bốn mươi chín đóng khối ngoại xứ đủ ba bước, bằng hiện tại.

Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, thuộc hiện tại. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã; và cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Rồi năm cảnh còn lại, rồi chuỗi kết.

Năm mươi bài đã qua? Không — bốn mươi chín. Và còn mười một bài nữa tới hết phẩm.

Trong mười một bài ấy: ba bài khổ → vô ngã (216–218), ba bài chỉ vô ngã (219–221), năm bài rút gọn tối đa (222–226), và một bài kết (227).

Bài kết ấy có một câu mà tôi muốn báo trước, vì nó là câu đẹp nhất của phẩm:

Sáu mươi phép lặp đến đây là hết.

Rồi kệ tóm tắt, và một dòng cuối:

Sáu mươi bài kinh.

Đó là cách một phẩm peyyāla tự đếm mình. Và nó làm điều ấy ở dòng cuối, như một người kiểm lại hàng hóa trước khi đóng cửa.

Tôi thấy chi tiết ấy rất người.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Rồi Khổ Ngoại Xứ (Bāhirātītādiyadaniccasutta) — bài thứ bốn mươi tám.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, thuộc hiện tại.

Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.

Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là vô thường, thuộc hiện tại; cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →