Tương Ưng Bộ · SN 35.188
Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Nội Xứ
Ajjhattapaccuppannāniccasutta — bài thứ hai mươi mốt
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai mươi hai đóng bộ ba thời gian đầu tiên: hiện tại.
Này các tỳ-kheo, con mắt là vô thường, cái tai là vô thường, cái mũi là vô thường, cái lưỡi là vô thường, cái thân là vô thường và ý là vô thường, tất cả đều thuộc hiện tại.
Và đây là cái khó nhất trong ba.
Quá khứ đã qua — dễ. Vị lai sẽ tới — suy ra được. Hiện tại thì đang là — và cái đang là thì có vẻ không biến đổi.
Đó là ảo giác căn bản mà cả bộ Tương Ưng Sáu Xứ nhắm vào: cái đang có mặt trông như đứng yên.
Và cách phá ảo giác ấy không phải bằng lập luận, mà bằng nhìn kỹ hơn: một cảm thọ đang có mặt — nó đã sinh, và nó sẽ diệt. Cái "đang" ấy không phải một điểm, nó là một khoảng đang trôi.
Bài này chỉ nói một câu về điều đó. Nhưng nó là câu quan trọng nhất của bộ ba, vì nó là câu áp vào chỗ mình đang đứng.
Hai bài trước nói về cái đã xong và cái chưa tới — tức là về những nơi mình không ở. Bài này nói về nơi mình đang ở.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Nội Xứ (Ajjhattapaccuppannāniccasutta) — bài thứ hai mươi mốt.
"Này các tỳ-kheo, con mắt là vô thường, cái tai là vô thường, cái mũi là vô thường, cái lưỡi là vô thường, cái thân là vô thường và ý là vô thường, thuộc hiện tại.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.