Tương Ưng Bộ · SN 18.4
Kinh Xúc
Samphassasutta — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tư là mảnh thứ tư của cùng một sự kiện: xúc, chỗ ba thứ gặp nhau.
Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, nhãn xúc là thường hay vô thường?
Xúc không phải sự chạm của hai vật. Trong kinh, nó là điểm gặp gỡ: mắt, sắc, và cái biết về sắc cùng có mặt thì gọi là xúc. Không có xúc nào đứng riêng một mình.
Có lẽ vì thế mà bài này là bài dễ bị đọc lướt nhất trong cả loạt. Bốn bài đầu đi qua bốn thứ nghe rất giống nhau, và người đọc bắt đầu nghĩ mình đã hiểu ý rồi.
Nhưng chính chỗ ấy mới là chỗ bài kinh muốn đến. Nếu xúc là chỗ ba thứ gặp nhau, thì xúc không thể đứng yên khi một trong ba thứ ấy đổi. Và cả ba đều đổi. Vậy xúc đổi ngay trong lúc nó đang có mặt.
Câu trả lời của Rāhula vẫn ngắn. Nhưng đến bài này, nó không còn là một câu trả lời học thuộc nữa.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.
Phẩm Thứ Nhất (Paṭhamavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rāhula.
Kinh Xúc (Samphassasutta) — bài thứ bốn.
"Tại Sāvatthī.
Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,
nhãn xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
nhĩ xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
tỉ xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thiệt xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
thân xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
ý xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với nhĩ xúc, nhàm chán đối với tỉ xúc, nhàm chán đối với thiệt xúc, nhàm chán đối với thân xúc, nhàm chán đối với ý xúc;
do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."
Bài thứ bốn.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.