Tương Ưng Bộ · SN 43.028
Yên Ổn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Khemasutta — Kinh Yên Ổn
Yên ổn — khema, chữ dùng cho vùng đất không có giặc, cho con đường không có thú dữ, cho người đã qua được chỗ hiểm.
Yên ổn — này các tỳ-kheo, đây gọi là con đường đi đến vô vi.
Đây là chữ mang nặng hình ảnh du hành: nó không nói tới một trạng thái tĩnh, mà nói tới việc đã đi qua được chỗ nguy hiểm. Rất phù hợp với một Tương Ưng mà từ khoá chính là con đường.
Bản dịch khai triển đầy đủ theo khung của bài Vô Vi.
Khema — bài thứ hai mươi tám
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Vô Vi (Asaṅkhatasaṃyutta), tương ưng thứ 43.
Phẩm thứ hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Vô Vi.
Yên Ổn (Khema) — bài thứ hai mươi tám.
"Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông về yên ổn và con đường đi đến yên ổn.
Hãy lắng nghe. Này các tỳ-kheo, yên ổn là gì? Này các tỳ-kheo, sự tận diệt tham, sự tận diệt sân, sự tận diệt si — này các tỳ-kheo, đây gọi là yên ổn. Này các tỳ-kheo, con đường đi đến yên ổn là gì? Thân hành niệm — này các tỳ-kheo, đây gọi là con đường đi đến yên ổn. Này các tỳ-kheo, như vậy ta đã giảng cho các ông yên ổn, đã giảng con đường đi đến yên ổn. Những gì một bậc đạo sư muốn làm cho các đệ tử — vì lòng thương tưởng, vì lòng bi mẫn, vì sự an lạc của họ — thì ta đã làm cho các ông. Này các tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống vắng. Hãy ngồi thiền, này các tỳ-kheo, chớ buông lung, chớ để về sau phải hối hận. Đây là lời dạy của ta cho các ông."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.